Một câu vọng cổ làm người nghe rưng rưng vì nó được hát rất chậm, kéo dài trên nền tiếng đờn kìm, đờn ghi ta phím lõm, nhịp thưa tới mức giọng người được tự do ngân nga, luyến láy như đang kể lể với chính mình, và cuối mỗi câu có một chỗ xuống xề, giọng hạ trầm xuống như một tiếng thở dài. Cải lương lấy câu vọng cổ làm trái tim, và trái tim ấy được làm ra để chạm vào nỗi nhớ.
Chào bạn, đây là Nhà Nghệ Thuật. Với nhiều người miền Nam, tiếng vọng cổ từ chiếc radio cũ là âm thanh của tuổi thơ. Với nhiều người khác, nó lạ lẫm và chậm. Tập này mình thử kể cái hay của câu vọng cổ cho cả hai nhóm nghe.
Từ đờn ca tài tử tới sân khấu cải lương
Cải lương hình thành ở Nam Bộ khoảng đầu thế kỷ hai mươi. Gốc của nó là đờn ca tài tử, lối chơi nhạc của những người yêu nhạc ngồi với nhau, có người đờn, có người ca, trong những buổi gặp gỡ, đám tiệc, chiều mát bên hiên nhà. Tài tử ở đây là người chơi vì yêu, không phải người hát thuê.
Từ chỗ ngồi ca, người ta bắt đầu ca kèm diễn, thêm điệu bộ, thêm câu chuyện, rồi dựng thành tuồng tích trên sân khấu. Cái tên cải lương thường được giải thích là sửa đổi cho tốt hơn, ý nói một lối hát mới, khác với hát bội cũ.
Cải lương nhanh chóng trở thành món ăn tinh thần của cả miền Nam, rồi lan ra các vùng khác. Những gánh hát lưu diễn khắp nơi, những vở được thu thành băng đĩa, phát trên radio, đưa giọng hát vào từng nhà.
Đờn ca tài tử Nam Bộ sau này được công nhận là di sản văn hoá phi vật thể đại diện của nhân loại, ghi nhận cái gốc làm nên cải lương.
Dạ cổ hoài lang: bài hát mẹ của vọng cổ
Câu chuyện về vọng cổ thường bắt đầu từ bài Dạ cổ hoài lang của nhạc sĩ Cao Văn Lầu, người ta hay gọi là ông Sáu Lầu, ở Bạc Liêu, ra đời khoảng cuối những năm mười của thế kỷ trước. Tên bài nghĩa là nghe tiếng trống đêm nhớ chồng, lời kể nỗi lòng người vợ chờ chồng đi xa.
Bài hát được yêu thích, được người ca biến hoá, kéo dãn nhịp ra gấp đôi, gấp bốn, rồi nhiều hơn nữa. Nhịp càng dãn thì mỗi câu càng dài, giọng hát càng có chỗ để luyến láy, ngân nga. Từ đó hình thành bài vọng cổ, trở thành bài bản quan trọng nhất của cải lương.
Chi tiết chính xác về năm ra đời và quá trình biến đổi vẫn có những ghi chép khác nhau. Nhưng điều mọi người đồng ý là từ một bài hát nhớ chồng ở Bạc Liêu, đã ra đời cả một giọng hát của miền Nam.
Bạc Liêu ngày nay có những công trình tưởng niệm ông Sáu Lầu và bài Dạ cổ hoài lang, nơi người yêu cải lương thường ghé thăm.
Xuống xề: tiếng thở dài cuối câu
Một câu vọng cổ có nhiều nhịp, người ca đi chầm chậm theo tiếng đờn, có khi chỉ vài chữ được ngân kéo cả mấy nhịp. Rồi tới cuối câu có một chỗ gọi là xuống xề, giọng hạ xuống, trầm và nặng, khép lại câu hát.
Người nghe sành chờ đợi đúng chỗ xuống xề ấy. Một giọng ca hay là giọng xuống xề ngọt, mùi, làm người nghe nao lòng. Khán giả ở rạp có khi vỗ tay ngay sau một câu xuống xề đẹp, như một lời khen tức thì.
Trước câu vọng cổ thường có một đoạn nói lối, rồi một vài câu hát dạo, như dọn đường. Rồi tiếng đờn dạo lên, người ca bước vào câu một, câu hai, có khi tới câu sáu. Mỗi câu một tầng cảm xúc, thường dâng dần lên.
Khi nghe, bạn thử đếm các câu và chờ chỗ xuống xề. Chỉ cần làm vậy, bạn sẽ bắt đầu thấy được hình dáng của bài hát.
Cây ghi ta phím lõm và tiếng đờn kìm
Âm thanh cải lương có một màu rất riêng nhờ những cây đờn. Đờn kìm, tức đàn nguyệt, có tiếng trong và tròn. Đờn tranh có tiếng rải như nước chảy. Đờn cò kéo dài tiếng như than. Và đặc biệt là cây ghi ta phím lõm.
Đó là cây ghi ta phương Tây được người Nam Bộ khoét lõm các phím, để ngón tay có thể nhấn sâu xuống dây, làm cao độ uốn lượn, rung rinh như các nhạc cụ dân tộc. Từ một nhạc cụ ngoại, nó trở thành giọng của cải lương. Một ví dụ đẹp về cách người Việt Việt hoá thứ đến từ bên ngoài.
Người đờn và người ca phải hiểu nhau rất sâu. Đờn đi trước dẫn đường, đỡ lấy giọng ca, lấp vào chỗ người ca lấy hơi. Có khi đờn và ca như hai người đang trò chuyện.
Lần tới nghe vọng cổ, bạn thử tách tai ra để chỉ nghe tiếng đờn. Bạn sẽ thấy cả một cuộc đối thoại âm thầm ở phía sau giọng hát.
Nghe cải lương lần đầu thế nào?
Nếu bạn chưa quen, mình gợi ý bắt đầu bằng một bài vọng cổ đơn ca, không cần cả vở. Ngồi chỗ yên tĩnh, nghe chầm chậm, đừng làm việc khác. Cải lương không phải nhạc nền, nó cần mình lắng nghe.
Nội dung các vở cải lương thường xoay quanh tình yêu, gia đình, chia ly, lòng hiếu thảo, những số phận nghèo khổ. Nhiều người thấy bi luỵ, nhưng chính chất kể lể ấy là cách người Nam Bộ xưa nói về nỗi buồn của mình một cách thẳng thắn, không giấu.
Nếu có dịp, hãy đi xem một suất cải lương ở rạp hoặc một buổi đờn ca tài tử ở miền Tây. Ngồi giữa những khán giả lớn tuổi nghe họ hát theo, vỗ tay khi xuống xề, bạn sẽ hiểu cải lương không chỉ là âm nhạc mà là ký ức chung của một vùng đất.
Và có lẽ bạn sẽ bất ngờ thấy mình nhớ một ai đó, dù chưa từng biết người vợ trong bài Dạ cổ hoài lang. Đó là việc câu vọng cổ vẫn làm suốt một thế kỷ nay.
Câu hỏi thường gặp
Vọng cổ có bao nhiêu câu?
Một bài vọng cổ thường có sáu câu, nhưng tuỳ cách soạn và trình diễn, người ta có thể hát ít câu hơn. Mỗi câu gồm nhiều nhịp và kết thúc bằng chỗ xuống xề.
Đờn ca tài tử khác cải lương thế nào?
Đờn ca tài tử là lối đờn và ca thân mật, không nhất thiết có sân khấu, diễn xuất hay câu chuyện. Cải lương phát triển từ đó thành sân khấu kịch hát, có vai diễn, phục trang, tuồng tích.
Vì sao gọi là ghi ta phím lõm?
Vì các phím đàn được khoét lõm xuống giữa hai phím, cho phép nhấn dây sâu để uốn cao độ và tạo tiếng rung đặc trưng của nhạc cổ truyền Nam Bộ.
Cải lương có còn được yêu thích không?
Cải lương vẫn có khán giả trung thành, nhiều chương trình truyền hình và nhóm nghệ sĩ trẻ đang tìm cách đổi mới. Tuy vậy, số suất diễn ở rạp đã giảm nhiều so với thời hoàng kim.
Người không phải miền Nam có nghe hiểu cải lương không?
Lời cải lương dùng giọng và từ ngữ Nam Bộ, nhưng phần lớn dễ hiểu. Cái khó hơn là quen với nhịp chậm, và chỉ cần nghe vài lần là tai sẽ tự quen.